Những Điểm Khác Biệt Lớn Giữa Quỹ Chỉ Số Và Quỹ Tương Hỗ

73

Ba điểm khác biệt lớn nhất phong cách quản lý, mục tiêu đầu tư và chi phí. Rõ ràng, quỹ chỉ số có lợi hơn so với quỹ tương hỗ. 

So sánh quỹ chỉ số và quỹ tương hỗ

Quỹ chỉ số quỹ tương hỗ khác nhau ở vài điểm. Quỹ chỉ số đầu tư vào một danh sách cổ phiếu cụ thể (chẳng hạn như cổ phiếu của các công ty niêm yết trên S&P 500). Trong khi đó, danh sách cổ phiếu mà quỹ tương hỗ chủ động đầu tư liên tục thay đổi, tùy vào quyết định của nhà quản lý đầu tư. Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa hai loại quỹ này. 

Sự khác biệt này dẫn đến một số tác động trực tiếp như sau: 

• Quỹ chỉ số tìm kiếm mức lợi nhuận trung bình của thị trường, trong khi quỹ tương hỗ chủ động luôn tìm cách vượt qua thị trường. 

• Quỹ tương hỗ chủ động thường có mức phí cao hơn quỹ chỉ số. 

• Có thể dự đoán hiệu suất của quỹ chỉ số một cách tương đối. Hiệu suất của quỹ tương hồ chủ động thường khó dự đoán hơn nhiều. 

Và cuối cùng, trong một khoảng thời gian đủ dài, các nhà đầu tư có thể thu về lợi nhuận lớn hơn với quỹ chỉ số.

Quản lý thụ động và chủ động 

Quản lý quỹ tương hỗ đòi hỏi phải đưa ra các quyết định đầu tư hàng ngày (đôi khi hàng giờ). Một trong những điểm khác biệt giữa quỹ tương hỗ chỉ số và quỹ tương hỗ thông thường là người đứng sau các quyết định. 

Không cần phải có người chủ động tìm kiếm để quyết định nên mua và bán những gì trong một quỹ tương hồ chi số. Quỹ tương hỗ tự động nương theo chỉ số. Do đó, nếu một cổ phiếu nằm trong chỉ số thì nó cũng sẽ có mặt trong quỹ. 

Do không ai chủ động quản lý danh mục đầu tư nên hiệu suất của loại quỹ này chỉ đơn giản là dựa trên biến động giá của từng cổ phiếu trong chi số. Đó là lý do tại sao đầu tư chỉ số được coi là một chiến lược đầu tư thụ động. Trong một quỹ tương hỗ được quản lý chủ động, người hoặc nhóm quản lý quỹ đưa ra mọi quyết định đầu tư. Họ được tự do lựa chọn chỉ số và các loại hình đầu tư khác nhau cho quỹ, miễn là những gì họ chọn tuân thủ điều lệ đã nêu của quỹ. Họ sẽ là người quyết định nên mua cổ phiếu nào, mua bao nhiêu hoặc bán bao nhiêu khỏi danh mục đầu tư. Và đây cũng là nguồn cơn gây ra rắc rối cho các quỹ tương hỗ được quản lý chủ động.

Lịch sử cho thấy nó khó có thể mang về lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận của quỹ thụ động (còn gọi là chỉ số), Trên thực tế, trong 15 năm kết thúc vào tháng 12/2016, hơn 90% quỹ vốn hóa lớn, vốn hóa trung bình và vốn hóa nhỏ của Mỹ do các nhà quản lý quỹ điều hành có hiệu suất kém hơn chi số S&P 500, theo dữ liệu của S&P Dow Indices.

Mục tiêu đầu tư 

Mục tiêu đầu tư duy nhất của quỹ chỉ số là có được hiệu suất tương đương hiệu suất của chỉ số cơ sở. Khi chỉ số S&P 500 thăng trầm thì quỹ tương hỗ chỉ số S&P 500 cũng thăng trầm theo. 

Mục tiêu đầu tư của quỹ tương hỗ được quản lý chủ động là có hiệu suất cao hơn mức trung bình của thị trường. Các quỹ dạng này thường có một đội ngũ chuyên gia lựa chọn những khoản đầu tư mà họ tin rằng sẽ thúc đẩy hiệu suất chung của quỹ. 

Các nhà đầu tư có thể thích đầu tư vào quỹ được quản lý chủ động hơn là quỹ chỉ số bởi họ đều muốn có hiệu suất vượt trội so với quỹ chỉ số. Đổi lại, họ sẽ phải trả một cái giá cao cho kiến thức chuyên môn của người quản lý. Điều này dẫn đến sự khác biệt tiếp theo và có lẽ là quan trọng nhất giữa quỹ chỉ số và quỹ tương hỗ được quản lý chỉ động. Đỏ là chi phi. 

Khác biệt về chi phí 

Chi phí chắc hẳn sẽ cao hơn khi có người tham gia quản lý, bao gồm lương thưởng cho người quản lý đầu tư, phúc lợi cho nhân viên, tiền thuê văn phòng và chi phí cho tài liệu tiếp thị để thu hút nhiều nhà đầu tư hơn. 

Ai là người phải gánh những chi phí đó? Chính là các cổ đông. Chúng được gộp vào một khoản phí được gọi là tỷ lệ chi phí quỹ tương hỗ. 

Các nhà đầu tư phải trả nhiều hơn để sở hữu cổ phiếu của các quỹ tương hỗ được quản lý chủ động bởi họ đều hy vọng chúng sẽ có hiệu suất hoạt động tốt hơn các quỹ chỉ số. Nhưng mức phí cao sẽ trực tiếp ăn môn lợi nhuận mà họ nhận được từ các quỹ. Điều này khiến cho phần lớn các quỹ tương hỗ được quản lý chủ động có hiệu suất kém hơn thị trường chung. Trong khi đó, các quỹ chỉ số có chi phí đầu tư thấp và được nhiều nhà đầu tư ưa chuộng. 

Các quỹ chỉ số cũng tốn chi phí để hoạt động nhưng thấp hơn nhiều so với quỹ quản lý chú động. Ở tài khoản quản lý chủ động, do tỷ lệ chi phí được khấu trừ trực tiếp từ lợi nhuận hàng năm của nhà đầu tư nên có ít số dư trong tài khoản để cộng gộp và tăng trưởng. Như vậy, khoản phí này gây bất lợi cả về nhiều mặt cho nhà đầu tư. 

Kết luận: Chi phí quản lý càng thấp thì lợi nhuận đầu tư của cổ đông càng cao.

Nguyễn Quyên (theo Investo)

https://t.me/joinchat/AAAAAE1J9RAKNA-9SDXL9Q

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây